08-12-2010 8:40

Tăng huyết áp trong thai kỳ

Khi mang thai, thai phụ cần phải khám thai định kì để kiểm tra sự phát triển của thai nhi có bình thường hay không? Trong đó việc đo huyết áp thường xuyên, đặc biệt trước khi sinh cũng là điều cần thiết?

Huyết áp ở phụ nữ mang thai

Huyết áp là số đo sức co bóp của tim đẩy máu đi trong động mạch để nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Đối với người bình thường, huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) từ 90 đến 139 mm Hg và Huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương) từ 60 đến 89 mm Hg. Khi thấp hơn hoặc cao hơn con số này nghĩa là bạn đang có vấn đề về huyết áp, có thể huyết áp cao hoặc huyết áp thấp. Các bác sĩ cho biết, các thai phụ thường hay bị chứng tăng huyết áp (huyết áp cao) nhiều hơn. Đối với người bình thường, huyết áp cao là nguyên nhân của nhiều bệnh như: đái tháo đường, bệnh thận và các chứng tim mạch... Đối với phụ nữ đang trong thời gian thai kì điều này lại càng nguy hiểm hơn. Khi xuất hiện triệu chứng tăng huyết áp kèm theo đó là các biến chứng của nó như phù thũng, đẻ non...

Tăng huyết áp (THA) có thể được chẩn đoán dựa vào trị số huyết áp đo được hoặc dựa vào sự THA tương đối so với trước khi mang thai. Khi huyết áp tâm thu trên 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương trên 90 mmHg thì được gọi là THA. Cách tính khác dựa vào: huyết áp tâm thu tăng trên 30 mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng trên 15 mmHg so với mức huyết áp đo được ở thời điểm trước khi mang thai.

Các biểu hiện của chứng tăng huyết áp?

Muốn biết chính xác số đo huyết áp phải sử dụng máy đo huyết áp ở động mạch cánh tay qua vùng khuỷu. Tuy nhiên nếu thai phụ chú ý quan sát sức khoẻ của bản thân có thể nhận biết qua một số dấu hiệu như:

- Cảm giác căng thẳng, khó chịu

- Nhức đầu

- Thấy ù ù trong tai

- Hoa mắt, chóng mặt. Nếu nhìn thấy mờ đi thì bệnh đã nặng.

Điều này chỉ áp dụng khi thai phụ trước nay vẫn bình thường, khoẻ mạnh nhưng gần đây lại xuất hiện triệu chứng trên thì phải nghĩ ngay đến cao huyết áp do nhiễm độc thai nghén. Bệnh này thường xảy ra sau tuần mang thai thứ 24.

Các loại tăng huyết áp?

Có những loại cơ bản sau:

Cao huyết áp nguyên phát chiếm tỷ lệ 95 – 97% số bệnh nhân, không có nguyên nhân nên còn gọi là cao huyết áp vô căn. Tuy nhiên, có một số điều kiện thuận lợi dễ dẫn tới cao huyết áp vô căn và được coi là những yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác như ăn quá nhiều muối, ít vận động thể lực, béo phì, tăng cholesterol máu, nghiện thuốc lá, căng thẳng thần kinh tâm lý, tuổi cao, gen di truyền.

Cao huyết áp thứ phát chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (vài phần trăm số người bệnh cao huyết áp). Loại cao huyết áp này có nguyên nhân rõ rệt và thường xảy ra ở người có các bệnh lý ở thận, tuyến thượng thận, động mạch chủ, tuyến giáp trạng… hoặc do sử dụng dài ngày một số thuốc có tác dụng phụ không mong muốn như loại thuốc tránh thai, cam thảo, thuốc có tác dụng gây co mạch, các thuốc chống viêm mạch như corticoid…

THA vô căn (cao huyết áp không rõ nguyên nhân) : THA vô căn chiếm 3 - 5% số lần mang thai của phụ nữ và có xu hướng ngày càng tăng do phụ nữ ngày nay thường sinh con muộn hơn (từ 30 - 40 tuổi). Nếu những phụ nữ này được kiểm soát huyết áp tốt thì quá trình mang thai vẫn có thể diễn ra bình thường. Tuy nhiên nếu THA vô căn nặng (huyết áp tâm trương trên 110 mmHg) trước tuần thứ 20 của thai kỳ thì nguy cơ tiền sản giật tăng lên đến 46%.

THA thai nghén: Gọi là THA thai nghén khi THA xảy ra vào nửa sau của thai kỳ ở các phụ nữ có số đo huyết áp trước lúc mang thai hoàn toàn bình thường, không kèm theo protein niệu nhiều (trên 0,3g/24h) và các dấu hiệu của tiền sản giật. THA thai nghén chiếm 6-7% số lần mang thai của phụ nữ và khỏi hoàn toàn khi hết thời kỳ hậu sản. Nguy cơ tiền sản giật là 15-26%. Nếu THA xuất hiện vào tuần thứ 36 của thai kỳ thì nguy cơ chỉ còn 10%.

Ảnh hưởng của chứng huyết áp cao

- Đối với thai phụ: Nếu cùng với chứng huyết áp cao, thai phụ còn bị bệnh tim sẽ dẫn đến suy tim, cản trở chức năng cầm máu, chức năng của thận cũng bị suy giảm dẫn đến hiện tượng chảy máu não, gan tạng bị tổn thương, tiểu cầu cạn kiệt, máu không đông... Ảnh hưởng lớn nhất là việc tác động của nó lên hệ tim mạch dẫn đến hiện tượng tiền sản giật và tăng nguy cơ tử vong.

- Về phía thai nhi: Khi người mẹ bị tăng huyết áp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Thai có thể bị chết lưu trong tử cung, bị ngạt thở và chết do thiếu máu cục bộ hoặc đẻ thiếu tháng...

Một số nguyên nhân gây ra chứng cao huyết áp:

- Tuổi của sản phụ quá cao (trên 35 tuổi)

- Dòng họ có người bị bệnh

- Thai phụ quá cân, trước khi mang thai đã bị bệnh huyết áp cao, viêm thận mãn tính, tiểu đường.

- Chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng.

- Chửa sinh đôi

- Thai phụ có nước ối quá nhiều

- Thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường.

Có thể phòng tránh được chứng tăng huyết áp hay không?

Trong y học, các chuyên gia đã khuyên khi phụ nữ mắc các bệnh như: hen suyễn, bệnh tim, bệnh viêm gan...không nên mang thai. Nhưng phụ nữ bị chứng cao huyết áp không nằm trong danh sách này. Họ vẫn có thể mang thai. Tuy nhiên nếu biết trước trong gia đình có người bị chứng này hoặc do các nguyên nhân khách quan thì họ có thể chủ động phòng tránh bằng một số giải pháp như:

- Tư vấn trước sinh: Những phụ nữ bị THA trước khi mang thai cần được đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ những nguyên nhân gây THA thứ phát như bệnh lý thận, nội tiết, đánh giá hiệu quả điều trị huyết áp và chỉnh liều thuốc để đạt hiệu quả hạ áp tối ưu, tư vấn cho họ về nguy cơ xuất hiện tiền sản giật và việc phải thay đổi một số thuốc nếu họ đang muốn mang thai an toàn. Phần lớn những phụ nữ bị THA đều có thể mang thai và sinh nở bình thường nếu họ được kiểm soát huyết áp tốt và được theo dõi chặt chẽ.

- Điều trị bằng thuốc: THA thực sự cần phải điều trị cho dù cơ chế sinh bệnh là gì. Việc điều trị chủ yếu để phòng tránh biến chứng chảy máu nội sọ. Tuy nhiên không nên hạ huyết áp quá tích cực sẽ làm giảm việc cung cấp máu cho nhau thai và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Đối với THA nhẹ đến vừa: Điều trị những trường hợp THA nhẹ và vừa có lợi cho mẹ hơn là cho thai nhi trong những ngày đầu của thời kỳ thai nghén. Một số phụ nữ đang được điều trị huyết áp từ trước thì đến giai đoạn này có thể giảm hoặc ngừng thuốc do trong nửa đầu của thai kỳ, huyết áp sẽ giảm một cách sinh lý. Tuy nhiên, sự giảm huyết áp này chỉ mang tính chất tạm thời, thai phụ cần được theo dõi sát và phải dùng thuốc lại khi cần thiết.

- THA nặng: Nguy cơ bị biến chứng và tử vong cho mẹ trong những trường hợp THA nặng (HA trên 170/110 mmHg) và tiền sản giật vẫn còn cao. Điều trị hạ huyết áp không có tác dụng ngăn chặn tiền sản giật. Chỉ đình chỉ thai nghén mới có tác dụng trong trường hợp này nhưng điều trị hạ huyết áp lại có thể làm giảm biến chứng chảy máu nội sọ. Điều trị THA nặng bao gồm kiểm soát tốt huyết áp bằng các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch và cố gắng duy trì quá trình thai nghén đến mức tối đa mà không gây ảnh hưởng gì đến mẹ và thai nhi.

 Bạn cần làm gì?

Không phải mọi người cao huyết áp đều biểu hiện ra bên ngoài mà phải đo mới phát hiện ra được. Do đó cần đi khám thai đầy đủ, đúng kì hạn để được đo huyết áp. Nếu giữa các lần khám thai xuất hiện một trong những triệu chứng trên cần đi kiểm tra lại ngay.

Thời kỳ hậu sản và cho con bú: THA sau khi sinh cũng tương đối phổ biến. Những người bị THA từ trước có thể dùng lại phác đồ điều trị như trước khi mang thai. Tuy nhiên, phụ nữ cho con bú không nên dùng thuốc lợi tiểu. Hầu hết các thuốc hạ huyết áp đều an toàn với phụ nữ cho con bú, chỉ có các thuốc như doxazosin, amlodipine và nhóm ức chế men chuyển là chưa có dữ liệu về độ an toàn.. Một điều hết sức đặc biệt là với những phụ nữ đã trải qua thời kỳ sinh nở mà không bị THA thì sẽ ít bị nguy cơ mắc bệnh tim mạch hơn những phụ nữ không sinh đẻ. Việc sinh đẻ cũng khiến phụ nữ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch về sau này, điều mà nam giới không thể có được.

Tiền sản giật và sản giật: Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thời kỳ thai nghén và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau. Trước đây người ta chẩn đoán tiền sản giật dựa vào ba triệu chứng: THA, phù và protein niệu nhưng quan niệm hiện đại thì cho rằng chỉ cần có THA thai nghén kèm với protein niệu nhiều là đủ để chẩn đoán tiền sản giật. Đây là nguyên nhân của việc thai nhi chậm phát triển trong buồng tử cung và đẻ non.

Như vậy, huyết áp tăng cao có nhiều ảnh hưởng đến phụ nữ mang thai, thai nhi và trẻ sơ sinh sau này. Vì thế cần được chuẩn đoán sớm và tiến hành dự phòng sự phát triển của bệnh có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ mang thai, thai nhi, đồng thời góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. Do đó, tất cả phụ nữ mang thai đều cần thiết phải được theo dõi chặt chẽ mọi biến đổi của cơ thể, trong đó có vấn đề huyết áp. Nếu có những biểu hiện THA cần đến các trung tâm sản khoa và tim mạch để được điều trị phù hợp.

.

 

 

 

Bình luận nhận xét

Truyen tranh tieng viet, Truyen hay 24h, Kuroko no basket